Chỉ là một chuyến về quê

Giới Thiệu

hặng đường dài, bắt đầu hòa nhập từ những món mang đậm hương vị Campuchia. Má kể, hồi đó Cha thèm ăn khô với lạp xưởng, cũng hay nhờ người gửi về, ngon, mà đậm đà.

_ Má à! Năm nay tụi con không để Má ở nhà đâu. Má phải đi với tụi con.

Vẫn như bao lần cả nhà sôi nổi bàn chuyện đi chơi xa, là Má lại từ tốn cười:

_ Má ở nhà canh nhà. Già rồi Má không đi đâu đâu.

Dù cho thuyết phục thế nào, Má cũng nhất quyết không đi. Từ năm nay qua năm khác. Niềm vui của Má là đêm Giao Thừa bày biện cúng gia tiên và rước ông Táo, ba ngày tết đều đặn cúng kiếng rất chỉn chu và đủ đầy, niềm vui của Má là ngồi trước bàn thờ Cha, và thủ thỉ nói gì đó, có khi thấy Má cười một mình, có lúc thấy Má ngồi lặng thinh rớt nước mắt mà con cháu trong nhà mỗi lần vô tình thấy được, rồi kể nhau nghe, không ai nói ai, cũng xót xa mà khóc ngon lành.

Má luôn có nỗi niềm mà tụi tui dù là khúc ruột rà cũng không cách nào chạm được.

Má của chúng tôi còn nhiều chuyện dang dở với Cha – chưa thành, còn nhiều câu chuyện hứa viết cùng Cha, mà bây giờ chỉ còn mỗi mình Má, tay run, đồi mồi, tóc bạc và đơn lẻ mình ên viết hồi ức.

_ Năm nay Má nhất định phải đi!

_ Má ở nhà được rồi, đi theo vướng tay vướng chân!

_ Năm nay tụi con đưa Má về quê!

_ Mồ tổ tụi bây, Má là người Sài Gòn, đang sống ở Sài Gòn, quê đâu nữa mà quê?

_ Năm nay tụi con dẫn Má đi Campuchia!

Má chợt im lặng. “Ừ!” một tiếng nhẹ nhàng thôi mà khiến cả nhà tôi mừng vui không tả nỗi. Ước mơ của anh em tụi tui là phụng dưỡng Má, dẫn Má đi đâu đó. Nay, tụi tui nhất định làm Má vui.

Campuchia là quê hương của Cha.

Nhưng thời Ponpot, Cha cùng gia đình chạy giặc qua Việt Nam. Sẵn là con lai người Kh’mer (đây là cách gọi đúng hơn là gọi “người Campuchia”) và người Việt, Cha “cưa” được Má vì đôi mắt đẹp, nước da ngăm đen cùng sự chân thành, chất phác đến ngây người – “hồi đó, Má cưới Cha bây vì ổng hay làm cho Má cười”. Ổng hay hát chế lời: “Anh Cam – pu  - chia nước da đen sì hàm răng trắng bóc”. Và hàng loạt câu chuyện cuộc đời Cha…

Mai là khởi hành, gia đình tôi đều có kinh nghiệm du lịch hàng năm nên ngủ sớm và ngủ ngon. Nửa đêm khát nước, đi ngang qua phòng khách, tôi thấy Má lục đục mở cái rương đựng kỷ vật của Cha. Ngồi lặng yên trong màn đêm ôm ấp.

_ Ngày đầu đi khá xa đó Má! Hơn năm trăm cây số. Má ngủ sớm để có sức!

_ Má biết rồi, hồi đó Cha bây kể, đi xe đò cũng mất hai ngày, đường đi khó khăn trăm bề.

_ Giờ còn có một sáng thôi Má ơi!

Sáng sau, cả nhà đã thấy Má sẵn sàng đâu đó đầy đủ. Má cười tươi lắm.

Xe ngang qua cửa khẩu, thủ tục cũng nhanh chóng hơn, người ta miễn phí nhập cảnh (visa) cho Việt Nam và cả Đông Nam Á. Má nói, trước đây khó khăn lắm và chuyện qua cửa khẩu là gắt gao. Ngày nay thì thông thoáng hơn nhiều, nhanh hơn nữa. Cả nhà cười, nói: “Chuyện đó xưa rồi Má ơi!”

Chặng đường dài, bắt đầu hòa nhập từ những món mang đậm hương vị Campuchia. Má kể, hồi đó Cha thèm ăn khô với lạp xưởng, cũng hay nhờ người gửi về, ngon, mà đậm đà. Nay, người ta đi Campuchia cũng hay mua về làm quà. Có cả gạo nữa. Vì gạo Campodge được xếp hàng ngon nhất thế giới.

Má sợ sẽ nắng hơn Sài Gòn nên dặn con cháu mang theo nón, dù. Nhưng ở SiemRiep nhiều cây cối,, đặc biệt là trong các đền đài còn những tảng cây to hơn vòng ôm của mười người. Rễ cây cũng đạt đến kích thước không ngờ, chen vào đá, dài mấy chục mét và chiều ngang hơn cơ thể người rất nhiều. Cả đoàn đang đứng nghe thuyết minh thì không thấy Má đứng trong đoàn. Nhìn tới nhìn lui, chợt nhận ra Má ngồi thẫn thờ bên một rễ cây dài, nặng đè ngang tường ngôi đền – rễ cây thủy chung. Trong một tấm hình Má cầm, Ba đang đứng đó, cười tươi, cùng với ông bà nội – những người mà chỉ được thấy qua những câu chuyện từ Má. “Thời chiến, ổng đã tới đây, không lưu lại tấm hình nào, nhưng nơi đây là chỗ cuối cùng tị nạn của Kh’mer Đỏ, sau khi bị quân giải phóng Việt Nam đánh đuổi đến gần tận cùng biên giới. Những năm tháng “một đi không trở lại ấy”, đền đài Angkor là nơi khiến nhiều người choáng ngộp nhất và gây nhiều xúc cảm nhất”. Cha quay lại chiến trường, theo quân giải phóng Việt để đẩy lùi bọn chúng, Cha từng chia sẻ với Má: “Kể cả giải phòng quân và giặc “đỏ”, dù gì thì dù cũng tôn sung rất nhiều từng rễ cây, mảnh tường nơi này.”

Vì nó đẹp, không những đẹp mà còn hoành tráng, không những hoành tráng mà còn ngoài sức tưởng tượng. Là ĐẸP HOÀNH TRÁNG NGOÀI SỨC TƯỞNG TƯỢNG. Những người Kh’mer nói chung có một câu: “nếu trong đời người, chưa lần nào đến Angkor thì chưa phải là người Kh’mer”. Nên nơi đây mang ý nghĩa linh thiêng tột cùng. Angkor Wat là nơi linh thiêng nhất trong tất cả những nơi linh thiêng. Vì hình ảnh Angkor Wat được tự hào vẽ vào quốc kỳ Campuchia mà. Hàng ngàn tảng đá được dựng lên và hình thành một kinh đô dường như “không thực”.  Tượng trưng cho Núi Meru, quê hương của các vị thần trong truyền thuyết Ấn Độ giáo: nằm giữa một con hào và lớp tường bao dài 3.6 km (2.2 dặm) là khu chính điện ba tầng với kiến trúc hình chữ nhật, kết nối với nhau bởi những dãy hành lang sâu thẳm – mà không có một chất kết dính nào được tìm thấy. Kể cả những bức điêu khắc nổi trên đá sa thạch, từ cuộc sống sinh hoạt đến các tiên nữ Apsara – một biểu tượng của vẻ đẹp tinh khiết – cũng rất tinh tế và không  - hề - trùng lắp. Má lướt tay, nhưng không chạm vào những dãy hành lang bằng sa thạch lạnh, có những đoạn sáng bong loáng hẳn lên vì hơi người: “Cha bây có nói chỗ này đẹp lắm, nhất định dẫn Má đi, nhất định sẽ cho Má thấy, Má cười nói “cũng như mấy đền đài thôi”, không ngờ bự khủng khiếp, bự và đẹp không thể tưởng tượng, thì ra tấm hình chỉ là một phần nhỏ xíu xịu trong bao la đền đài này”

Rồi qua đền Tahrum – Nơi làm phim trường “bí mật ngôi mộ cổ”

Đến Bayon – nơi có nụ cười huyền bí Angkor.

Mỗi chốn, ngoài việc nghe hướng dẫn viên miêu tả chi tiết, cả nhà còn được Má – như truyền nhân của lịch sử, luyên thuyên kể về thời trước. Mà hầu như qua lời của Cha.

Chúng tôi thấy Má nói nhiều hơn ngày thường, thấy ánh mắt của Má sáng bừng lên, sắc thái trên gương mặt lại linh hoạt và đầy sức sống hẳn. Có lúc Má như đứa trẻ như thử vị của nước thốt nốt – loài cây biểu trưng của Campuchia, rồi như bà Mẹ bỉm sữa kể về việc bánh bò thốt nốt, chè thốt nốt. Lúc Má rưng rưng đến rợn người, nổi cả da gà khi cầm bẹ lá cây thốt nốt với chi chit răng cưa – được dùng làm công cụ tra tấn trong thời Ponpot tăm tối.

Chúng tôi thấy bữa cơm – dù không phải cơm nhà bỗng nhiên ngon đến lạ (chắc do khẩu vị cũng hao hao Việt Nam) vì thấy Má linh hoạt hẳn, khác hẳn, sống động hơn hẳn. Chúng tôi thấy Má còn khỏe, còn đi được và minh mẫn. Chúng tôi nhận thấy những câu chuyện trước đây Má kể và được nhắc lại, nay nó rõ ràng mồn một. Chúng tôi thấy một quốc gia rất hiền hòa và hoàn toàn khác những gì người đời đồn thổi, họ hiền đến mức thấy thương. Chúng tôi trải qua làng quê với những ngôi nhà sàn giữa đồng bằng. Chúng tôi thấy Má như sống lại một thời kỷ niệm – dù chưa một lần đến – dù chỉ nghe qua lời của Cha. Chúng tôi thấy cả hoàng hôn thật diệu kỳ trong mắt Má và hoàng hôn rất đôn hậu bên dòng sông Mekong.

Điều đặc biệt nữa, là suốt chặng hành trình dài cả ngàn cây số đó, anh em tụi tui không ngồi cạnh Má, mà để Má ngồi kế bên cái ba lô của Cha, trong đó, có cơn man nào là những hình ảnh lúc Cha còn nhỏ chụp trong đền đài, có cả dòng sông Mekong huyền thoại, có dãy cây thốt nốt, có những con người nắng sậm màu da mà nụ cười sáng đến tỏa nắng, có bộ áo truyền thống của người Kh’mer tên gọi “k’bưng” (chứ không phải xà-rông)… Mà đi đến đâu, Má mang tấm hình đó ra so, tấm hình chỉ đen trắng nhưng chứa đựng cả một trời kí ức, sau khi hướng dẫn viên thuyết minh, tụi tui “bu” theo Má coi hình và được nghe kể cả một biển kỉ niệm – chỉ bằng mỗi một tấm hình đã nhòa…

Như Má nói, hồi còn sống Cha hay làm cho Má cười. Giờ đây, Má cũng cười với những gì liên quan đến Cha.

Lời hứa nhất định làm Má vui - không thành, thấy nước mắt Má đổ nhiều hơn thường ngày hay lúc ngồi tâm sự với Cha. Nhưng người ta có nói: “Kịch điểm của nước mắt là nụ cười, kịch điểm của nụ cười là nước mắt” – lần này, tụi tui thấy Má hả lòng lắm, nước mắt Má rơi mà môi run run cười, và đó là lần đầu anh em tụi tui thấy được một nụ cười hào sảng từ đôi môi cằn cỗi, từ ánh mắt rạn đầy chân chim và gò má đã bạc màu thời gian… sao mà đẹp đến như vậy, sao lại khiến tụi tui chùng lòng đến như vậy

Từ đó trở về sau, mỗi độ tết về là tụi tui dẫn Má về quê. Quê Má, Quê tui, quê con cháu tụi tui.

Hoài - Haidangtrave

Top